Giao diện tiếp cận

Nam quan hệ tình dục đồng giới - Họ là ai? Thứ Sáu, 26/04/2024, 00:00

Nam quan hệ tình dục đồng giới - Họ là ai?

Nguồn: istockphoto

Nam quan hệ tình dục đồng giới – Họ là ai? Bạn có thể tìm hiểu một số thông tin trong bài viết sau

1. Khái niệm về Giới và xu hướng tính dục

Để hiểu về nam quan hệ tình dục đồng giới, trước hết chúng ta cần hiểu một số cá khái niệm về giới và xu hướng tính dục. Hiện có nhiều khái niệm chúng ta cần phải hiểu và phân biệt.

1.1. Giới tính sinh học (Biological sex/Sex):

- Chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ. Đó là đặc điểm về giới của một người như bộ phận sinh dục (dương vật, âm hộ, âm đạo…), nhiễm sắc thể quy định giới tính và cơ quan sinh sản bên trong cơ thể (tinh hoàn, buồng trứng…). Với hầu hết mọi người, các đặc điểm sinh học về giới tính luôn được chia thành hai nhóm là nam và nữ.

- Tuy nhiên, trái với nhầm tưởng của số đông, trạng thái liên giới tính (intersex) vẫn được tìm thấy ở nhiều loài trong tự nhiên, kể cả con người. Liên giới tính là trạng thái mà một cá nhân bẩm sinh đã có kết cấu cơ quan sinh sản hoặc bộ phận sinh dục không hoàn toàn thuộc về đặc điểm sinh học của nam hay nữ theo cách hiểu thông thường.

1.2. Giới hoặc giới tính xã hội (Gender):

- Giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau.

- Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy dỗ và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định. Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái, nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị,… Những hành vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới.

(Ảnh: internet)

1.3. Bản dạng giới (gender identity):

- Bản dạng giới đại diện cho những suy nghĩ bên trong bạn về giới tính của mình, là cách bạn nhận thức bản thân (nam hay nữ) và muốn được người khác xưng hô thế nào. Giới tính một cá nhân cảm nhận về bản thân được gọi là bản dạng giới.

- Nếu có bản dạng giới và giới tính sinh học trùng khớp với nhau: bạn thuộc về số đông của nhân loại – những người rất ít khi nghĩ về sự tương thích giữa bản dạng giới và giới tính sinh học của mình, hay có thể còn chưa nghe nói đến khái niệm bản dạng giới bao giờ, bởi bạn luôn được xã hội nhìn nhận là bình thường. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng sở dĩ bạn được xem là bình thường không phải bởi giới tính sinh học và bản dạng giới trùng khớp nhau mới là đúng hay mặc định, mà chỉ đơn giản vì điều này phổ biến ở đa số mọi người.

- Với một số người, giới tính mà họ cảm nhận ở bản thân không trùng khớp với giới tính sinh học của họ. Vì như đã nói, có những người cảm nhận họ không thuộc về giới tính sinh học như lúc sinh ra, do đó bản dạng giới là khái niệm tách biệt với giới tính sinh học.

+ Một số nhỏ những cá nhân ngay từ khi còn rất bé đã nhận ra cơ thể mình không khớp với giới tính mà họ cảm nhận trong tâm trí. Bên cạnh đó, cũng có những người đến tuổi dậy thì, khi đã trưởng thành hay thậm chí ở ngưỡng trung niên mới nhận ra bản dạng giới của mình khác với giới tính sinh học. Chúng ta gọi họ là người chuyển giới/xuyên giới (transgender).
+ Thông thường, người chuyển giới được dùng để chỉ người sinh ra trong cơ thể nam giới (tức giới tính sinh học là nam) nhưng giới tính họ cảm nhận là nữ (bản dạng giới là nữ); hoặc ngược lại, người sinh ra trong cơ thể nữ giới (giới tính sinh học là nữ) nhưng giới tính họ cảm nhận là nam (bản dạng giới là nam).

1.4. Biểu hiện giới (Gender expression):  

Biểu hiện giới là cách chúng ta chọn thể hiện ra bên ngoài với mục đích cho biết giới tính hay bản dạng giới của bản thân mình với xung quanh. Cách thể hiện giới thường bao gồm ngoại hình và hành vi bên ngoài, chẳng hạn như cách ăn mặc, trang điểm, kiểu tóc, ngôn ngữ cơ thể, giọng nói và tên gọi. Nếu quan sát kỹ, bạn sẽ thấy xã hội luôn gắn những kỳ vọng ngầm hoặc rõ rệt trong việc thể hiện giới của nam và nữ ở gần như mọi mặt cuộc sống. Đến cả những đứa trẻ cũng ý thức rất rõ những lựa chọn trong phạm vi giới tính mà chúng được cho phép, như đồ chơi, màu sắc, quần áo, hay các hoạt động và trò chơi, v.v..

- Thông thường, con gái hoặc phụ nữ có thể hiện mạnh mẽ theo hướng nam tính hay được gọi là tomboy hoặc cá tính. Tuy nhiên, cũng còn tùy thuộc vào hoàn cảnh, văn hóa, môi trường sống cũng như mức độ vượt khỏi khuôn khổ về giới đến đâu mà thể hiện tomboy/cá tính có thể được đón nhận tích cực, trung lập hay tiêu cực. Chẳng hạn, một cô gái cắt tóc ngắn, mặc đồ phong cách mạnh mẽ và mê chơi game có thể được xem là “cô nàng tomboy đáng yêu”, nhưng trong một hoàn cảnh khác hay một mức độ khác lại có thể bị gọi là “ô môi”, “dị hợm”.
- Với các bé trai và nam giới có thể hiện khác với những quy chuẩn được kỳ vọng, xã hội thường dành một thái độ gay gắt và khó chấp nhận hơn hẳn. Những từ được dùng để gọi họ mang nghĩa bài xích, khinh thường hoặc đôi khi thù nghịch, như “bóng”, “ẻo lả”, “bê đê”, v.v…