Giao diện tiếp cận

Cơ sở khoa học của tình dục đồng giới Thứ Bẩy, 10/05/2014, 00:00

Ngày nay, các nghiên cứu xã hội học đã khẳng định rằng, xã hội nào cũng có hiện tượng tình dục đồng giới, biểu hiện đồng tính luyến ái như nhau. Tỉ lệ người đồng tính luyến ái gần như không thay đổi ở mọi xã hội, thời đại. Họ chiếm khoảng 3% dân số mỗi quốc gia, tỉ lệ này gồm cả người có quan hệ luyến ái với người cùng giới ở mức độ thi thoảng.

Cơ sở sinh học của tình dục đồng giới

Người  tình dục đồng giới chỉ khác với mọi người chủ yếu ở xu hướng tính dục (hấp dẫn với người cùng giới), ngoài ra họ có cấu trúc gen bình thường (XY hoặc XX) với hình thể bình thường thuộc nam hay nữ, có bản sắc giới bình thường (vẫn cảm nhận mình là nam hay nữ) và vai trò giới cũng bình thường trong hầu hết trường hợp.

Các nhà tâm lý, các khoa học gia về sức khỏe tâm thần và tính dục người đều chia xẻ quan điểm coi hành vi tình dục đồng giới là một xu hướng tính dục có tính chất cố định, không phải là sự lựa chọn của cá nhân, nó được hình thành ngay từ nhỏ do sự tác động qua lại của các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, trước cả khi có trải nghiệm tình dục. Có một số người đã thử thay đổi xu hướng tính dục, từ đồng giới chuyển thành khác giới nhưng không thành công.

Nghiên cứu của người Mỹ

Năm 1991, bác sĩ Le Vay, khoa  Thần kinh, Viện Salk (Mỹ) đã công bố nghiên cứu giải phẫu một phần não vùng dưới đầu của 41 tử thi. Đây là những người đã tử vong do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong số họ, có 16 người đồng tính luyến ái. Bác sĩ phát hiện ra rằng, những người đồng tính luyến ái, thành phần INH3 (cấu trúc nhỏ được biết đến như một yếu tố điều khiển thái độ tính dục ở động vật có vú) nhỏ gấp hai lần so với những người khác.

Năm 1993, một nhóm nghiên cứu y học do Dean Harner đứng đầu đã tìm mối liên hệ giữa gene và chứng đồng tính luyến ái. Họ tìm thấy một điểm đặc biệt trên nhánh dài của nhiễm sắc thể X, được truyền từ mẹ sang con và thường gặp ở những người đồng tính luyến ái.

Tháng 4/2003, một nhóm nghiên cứu khác của Mỹ cũng đã thử chứng minh sự liên quan giữa đặc điểm của bàn tay nam giới với thái độ tính dục. Do tác động của hormone sinh dục nam, đàn ông có ngón tay trỏ ngắn hơn ngón nhẫn. Vậy mà, theo các tác giả nghiên cứu, bàn tay của những người phụ nữ đồng tính luyến ái mang đặc điểm này của đàn ông.

Các nghiên cứu khác nhau đều nhằm mục đích chứng minh từ lúc chào đời, thái độ tình dục của con người ta đã được định sẵn. Cho dù nghiên cứu giải phẫu, nghiên cứu gen hay nội tiết, các bác sĩ đều tìm cách khẳng định rằng, một người có quan hệ tình dục đồng giới hay có quan hệ tình dục khác giới (hoặc thậm chí có cả hai thái độ này) đều là do cha sinh mẹ đẻ, chứ chẳng liên quan tới chuyện giáo dục hay môi trường sống.

Giả thiết nào được nhiều phe ủng hộ?

Các nghiên cứu này được nhiều tổ chức ủng hộ nhưng vì nhiều mục đích khác nhau. Hội người đồng tính luyến ái tâm huyết với các kết quả trên vì chúng chứng tỏ rằng họ chẳng có lỗi gì khi có quan hệ tình dục với người cùng giới. Phe bảo thủ thì quan tâm tới các nghiên cứu trên vì họ muốn khẳng định, người đồng tính luyến ái là người có khiếm khuyết về cấu tạo thể chất.

Các nghiên cứu mới được thực hiện trên số ít người nên tính thuyết phục chưa thật cao. Vấn đề này còn là đề tài tranh luận gay gắt, nhất là các nhà tâm lý học không chịu thua và kiên trì với cách lý giải của họ về đồng tính luyến ái như một hiện tượng tâm lý đơn thuần.

Xu hướng tình dục đồng giới, tuy chỉ chiếm khoảng 5% số người đã trưởng thành (dữ liệu của Mỹ) nhưng không có nghĩa là không giống đa số là không bình thường, vì thế nào là bình thường khi người tình dục đồng giới không thể chấp nhận hành vi tính dục khác giới và ngược lại, nhưng cả hai lại coi hành vi của người lưỡng tính dục là bình thường. Giả thuyết có vẻ hợp lý nhất, dựa trên những nghiên cứu các cặp song sinh, cho rằng những người TDĐG có những thay đổi khó nhận biết ở bản thân các gen, ở tác dụng qua lại giữa các gen và bộ phận cảm thụ hormone của các trung tâm thần kinh (vùng dưới đồi, não giữa) nơi chi phối mọi hành vi, cảm xúc tình dục.

Vì thế, những người tình dục đồng giới chỉ là nạn nhân của một cấu trúc sinh học mà họ không thể thay đổi được. Những người có xu hướng tính dục này hoàn toàn khỏe mạnh, họ có năng lực thể chất như nhiều người khác (phần lớn có khả năng hoạt động tình dục bình thường và có thể sinh sản, chỉ có điều họ bị chi phối bởi xu hướng tính dục nên không thể có hấp dẫn với người khác giới) và nhiều người có năng lực trí tuệ của nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ. Họ vẫn có những đam mê công việc, yêu quý người thân và cũng biết nuôi dạy con cái như những bậc cha mẹ tốt. Những trẻ được những người tình dục đồng giới nuôi dạy không thấy có sự phát triển khác thường về chỉ số thông minh, tâm lý, vai trò xã hội, bản sắc giới, quan hệ bạn bè... so với những trẻ khác.

Do hoàn cảnh xã hội chưa có thái độ dung nạp, thậm chí nghiệt ngã, nhiều người tình dục đồng giới có cuộc sống cách biệt, phải chịu đựng những nhìn nhận không chính đáng cho nên có thể có những tâm trạng như mặc cảm, hoài nghi xã hội. Cũng có thể kèm theo một rối loạn nào đó như thích bái vật (nảy sinh hứng khởi tình dục với bộ phận nào đó của cơ thể như bàn chân, bàn tay, tóc... hoặc đồ vật tiếp xúc với bái vật như giày dép)... nhưng tỷ lệ những rối loạn này ở người tình dục đồng giới không khác gì so với quần thể tình dục khác giới.

Nhiều người đã xem xét vấn đề tình dục đồng giới dưới góc độ đạo đức và tôn giáo mà không quan tâm đến các yếu tố di truyền, sinh học một cách nghiêm túc để hiểu rõ hơn chứng xu hướng tình dục này: nó không có hại cho cộng đồng vì không lây lan, chỉ thuộc một số người hạn chế, nó không đe dọa sự tồn tại của giống loài, cũng chỉ liên quan đến một số đàn ông và đàn bà thường rất hiền lành. Vì vậy họ không thể là mục tiêu để phải chịu sự kỳ thị hoặc đàn áp của xã hội. Có hại hay không có hại cho giống loài có lẽ sẽ là cốt lõi của vấn đề chấp nhận hay không chấp nhận. Nhận thức như vậy cho nên trên thế giới nhiều nước đã đặt hành vi tình dục đồng giới dưới sự bảo vệ của pháp luật, coi đó là biểu hiện của xu hướng tính dục tuy khác thường nhưng cần được bình đẳng về mọi mặt như những người khác.

Hiện nay cũng đã có nhiều tổ chức quốc tế bảo vệ quyền cho những người có xu hướng tính dục được coi là "thiểu số" này. Siecus, trong phát biểu về những nguyên lý của tính dục người đã nói: "Xu hướng tính dục là vấn đề thuộc về quyền cơ bản của con người, là thành phần của bản sắc giới, giới tính và là sự tự khẳng định chức năng tính dục của mỗi người thuộc tình dục đồng giới hay khác giới".

Sự không hiểu biết đầy đủ của một bộ phận cộng đồng về loại xu hướng tính dục này (những người tình dục đồng giới) đã gây cho họ nhiều khó khăn và thiệt thòi trong đời sống. Có nhiều người có tâm trạng bế tắc, chán chường, thậm chí muốn tự tử, có người đã cầu cứu đến các nhân vật khoa học, các nhà văn để giãi bày nỗi khổ của mình. Vậy không thể bỏ qua nguyện vọng chính đáng của họ là được sống như một nhân cách bình thường khác, không bị kỳ thị, thành kiến, coi thường. Có lẽ muộn còn hơn không bao giờ, đã đến lúc cần có những nghiên cứu nghiêm túc về thực trạng nhóm người có xu hướng tình dục khác thường này để có định hướng dư luận xã hội và giúp đỡ họ.

Lượt xem: 3918

Nhận xét(0 Nhận xét)

Chưa có nhận xét nào

Chúng tôi mong muốn nhận được nhận xét  của bạn.

Bạn vui lòng nhập đầy đủ các trường có dấu *




Các tin mới hơn


Các tin khác


Đăng ký nhận bản tin

Nhận qua email bản tin thông báo về ấn phẩm, chương trình và sự kiện của Tâm sự 360.

Đối tác

IPPF
Logo-Rockefeller
Save-Child
CORDAID

Liên kết website

CIHP
CCIHP
PAHE
Lao động xa nhà

Đóng góp - Tài trợ

Thanh niên Việt Nam cần sự chung tay của bạn để có một cuộc sống lành mạnh, an toàn, thỏa mãn và tương lai bền vững.



Thống kê truy cập

Số người đang online: 8
Lượt truy cập: 10058006